Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

HAI NỀN VĂN MINH INCA VÀ AI CẬP


Thời gian tồn tại của hai nền văn minh Inca và Ai Cập là một khoảng cách rất lớn. Tuy nhiên, dù có sự cách biệt về không gian và thời gian tồn tại thì hai nền văn minh này vẫn là những đóng góp lớn lao cho văn minh nhân loại. Hơn thế nữa, người ta nhận thấy rất nhiều điểm tương đồng giữa hai nền văn minh này trong cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.  
Thời kỳ mà chúng ta thường coi là Ai Cập cổ đại cũng là thời kỳ mà các pharaông trị vì Ai Cập, tức là từ năm 3000 trước Công nguyên. Vào sơ kỳ của Thời đại Đồ đá, dân cư Ai Cập đã sinh sống tại các vùng khá cao so với mực nước biển, gần sông Nil, từ vùng châu thổ đến Aswan. Kể từ khoảng 5000 năm trước Công nguyên, những người di cư từ Palextin và Xiri, từ các bộ lạc Libi ở phía tây, từ Nubia ở phía nam đã tới định cư ở Ai Cập. Một số người đã bị hấp dẫn bởi đất đai màu mỡ của xứ xở này nên đã ở lại nơi đây. Những cư dân đầu tiên của Ai Cập đã bắt đầu trồng lúa mạch, nuôi gia súc, lập nên những xóm làng với những túp lều vách đất trên đồng bằng đất bồi, ở đó họ được an toàn trước những trận lụt hàng năm của sông Nil. Người ta tìm thấy những phiến bằng đá, những vật bằng ngà voi được chạm khắc tinh vi, hay các khay bằng đá cùng những ấm chén rất đẹp được chôn cùng với chủ nhân của chúng trong những hầm mộ có niên đại sớm hơn 3000 năm trước Công nguyên. Đó chính là những dấu tích của văn minh Ai Cập.
Những gì người ta biết được về Inca không nhiều như Ai Cập bởi người Inca không có hệ thống chữ viết. Vì thế, việc xác định thời gian tồn tại của nền văn minh này đến nay vẫn là một câu hỏi. Inca- một vương quốc rộng lớn nằm trên dãy núi Andes thuộc Nam Mỹ, được tạo ra bởi người Quechua, một tộc người bản đia tại châu Mỹ vào thế kỷ 15 sau Công nguyên. Phần lớn những gì người ta biết được về người Inca bắt nguồn từ những ghi chép của người Tây Ban Nha xâm lược vào thế kỷ 16 còn trước đó đế chế Inca tồn tại từ bao giờ vẫn chưa xác định được. Nhiều người cho rằng nền văn minh Inca còn tồn tại sớm hơn văn minh Ai Cập, tuy nhiên vẫn chưa có bằng chứng chứng minh được điều này. Người Inca đã xây dựng được một nền văn minh phong phú và rực rỡ với hơn 9 triệu dân.
Người Inca đã chinh phục được một số bộ tộc láng giềng khi họ mở rộng khu vực ảnh hưởng ra khỏi thung lũng Cuzco thuộc cao nguyên của Peru ngày nay. Đất đai của Inca dần dần lên tới 906.500km2. Phần lãnh thổ này kéo dài từ đình của dãy Andes, mở rộng sang bờ Thái Bình Dương và lưu vực Amazon. Trung tâm chính trị của Inca thuộc Peru ngày nay và lãnh thổ Inca bao gồm Ecuardo, Bolivia, bắc Chile và tây bắc ArgentinAi Cập. Địa hình vùng này là những cao nguyên đồng cỏ, rừng cây bụi thấp, sa mạc và các thung lũng sông màu mỡ.
Hầu hết các ý kiến và nghiên cứu đều cho rằng văn hoá của người Inca phát triển từ các nền văn minh châu Mỹ bản địa sớm hơn ở vùng Andes. Theo truyền thuyết, người Inca được biết đến là những nhóm nhỏ những người hiếu chiến và sống gần Hồ Titicaca thuộc đông nam Peru trước thế kỷ 13.

2. Không gian tồn tại
Nền văn minh Ai Cập còn gọi là nền văn minh sông Nil bởi chính con sông này đã tạo ra nơi sản sinh ra một trong các nền văn minh sớm nhất thế giới này. Sông Nile là con sông dài nhất thế giới, có bảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải. Phần hạ lưu sông Nile rộng lớn, giống như hình tam giác dài 700km, hai bên bờ sông rộng từ 10 đến 50km, tạo thành một vùng sinh thái ngập nước – một đồng bằng phì nhiêu với động thực vật đa dạng và đông đúc. Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 9, nước lũ sông Nile dâng lên làm tràn cả khu đồng bằng rộng lớn và bồi đắp một lượng phù sa khổng lồ, màu mỡ. Các loại thực vật chủ yếu như: đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen… sinh sôi nảy nở quanh năm. Ai Cập cũng có quần thể động vật đa dạng và phong phú, mang đặc điểm đồng bằng – sa mạc như voi, hươu cao cổ, sư tử, trâu, bò, cá sấu, các loài cá, chim… Tất cả những điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh Ai Cập sớm nhất.
Tồn tại trong bối cảnh lịch sử khác nhau và ở hai khu vực khác nhau, môi trường sống của người Inca cũng khác so với người Ai Cập. Với khí hậu khắc nghiệt và địa hình núi cao của dãy Andes, điều kiện tưới tiêu nông nghiệp và giao thông của người Inca khó khăn hơn so với người Ai Cập. Tuy nhiên, họ cũng chọn được cho minh các hình thức sản xuất phù hợp. Từ duy trì được nguồn lương thực họ tạo dựng được những giá trị về đời sống vật chất và tinh thần. Tất cả những yếu tố đó làm nên nền văn minh Inca.
Văn minh Ai Cập được hình thành trong điều kiện thiên nhiên thuận lợi, hài hoà hơn so với văn minh Inca. Tuy nhiên, một điều đáng ghi nhận đó là sự nỗ lực cải tạo thiên nhiên và xây dựng nên những giá trị tốt đẹp của cư dân thuộc hai nền văn minh này. Những giá trị ấy dù ít hay nhiều vẫn tồn tại cho đến ngày nay được ghi nhận như những di sản lớn mà người xưa để lại cho nhân loại.

3. Nguyên nhân sụp đổ của hai nền văn minh
Bất kỳ một thực thể nào tồn tại trên Trái Đất đều nằm trong quy luật hình thành, phát triển rồi suy tàn và được thay thế bởi những thực thể mới. Do những điều kiện chủ quan lẫn khách quan về yếu tố con người, môi trường, hoàn cảnh lịch sử mà hai nền văn minh Inca và Ai Cập đã không tránh được sự sụp đổ cho dù những giá trị về văn hoá mà họ xây dựng được là vô cùng to lớn.
Từ thế kỷ X trước Công nguyên, Ai Cập hết bị chia cắt bởi những mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội lại bị ngoại tộc thống trị. Đặc biệt, từ năm 525 trước Công nguyên, Ai Cập bị nhập vào đế quốc Ba Tư ở Tây Á. Năm 332 trước Công nguyên, Ai Cập bị Alexandre ở Makedonia chinh phục. Sau khi đế quốc Makedonia tan rã, Ai Cập thuộc quyền thống trị của một vương triều Hy Lạp gọi là vương triều Ptoleme (305 – 30 trước Công nguyên). Đến năm 30 trước Công nguyên, Ai Cập thành một tỉnh của đế quốc La Mã. Từ đó cho đến nay, những gì người ta biết được về nền văn minh Ai Cập là nhờ những di sản văn hoá mà họ để lại. Nền văn minh Ai Cập phát triển rực rỡ một thời kết thúc do sự xâm chiếm của đế chế La Mã.
Muộn hơn rất nhiều sơ với văn minh Ai Cập, văn minh Inca cũng như những nền văn minh khác tồn tại ở Nam Mỹ đã bị thực dân phương nhòm ngó khi lục địa mới này được khám phá. Năm 1532, người Tây Ban Nha đầu tiên là Francisco Pizzaro đã đặt chân tới đế quốc Inca. Sự giàu có ở nơi đây đã khiến người Tây Ban Nha nổi lòng tham và muốn chinh phục. Ngay từ vài năm trước đó người Inca đã mắc phải những bệnh mà trước nay họ chưa từng có (đậu mùa và sởi), lan truyền qua Trung Mỹ đến phía nam với hậu quả chết người. Khi Pizzaro đến, vương quốc Inca không còn là một vương quốc hùng cường nữa mà là một quốc gia đang chìm đắm trong cuộc chiến kế thừa giữa hai anh em AtahualpaHuascar. Cuộc nội chiến này đã lay chuyển nền móng của vương quốc và sự bất bình của các dân tộc bị thống trị càng làm cho quốc gia này nhanh chóng sụp đổ. Tuy vậy, cuộc chinh phục của người Tây Ban Nha đối với đế chế Inca không hề dễ dàng. Mãi đến năm 1572, người Inca mới bị chinh phục hoàn toàn. Lịch sử 100 năm của đế chế Inca kết thúc.
Qua nhiều thế kỷ nhưng những giá trị mà người Inca và Ai Cập tạo dựng được vẫn tồn tại bền vững và có một điểm đặc biệt là rất nhiều điểm tương đồng được nhận thấy giữa hai nền văn minh này.
Những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nền văn minh Inca và Ai Cập được thể hiện qua các giá trị văn hoá vật chất lẫn tinh thần mà họ tạo dựng nên.
Một điểm chung có thể nhận thấy trong hoạt động sản xuất của người Inca và Ai Cập là họ cùng là những cư dân nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi đóng vai trò chủ đạo trong đời sống của họ. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở điều kiện thiên nhiên giành sự ưu đãi nhất định cho họ. Có thể nói, người Ai Cập có điều kiện thuận lợi hơn trong các hoạt động kinh tế so với người Inca. Nhưng họ đều tìm ra những cách thích hợp để thích nghi được với môi trường sinh sống.
Sa mạc còn gọi là vùng Đất Đỏ, chiếm hơn 90% diện tích Ai Cập, nhưng chỉ có một số khu dân cư nhỏ ở các thung lũng sông và các ốc đảo. Người Ai Cập sống trên hai bờ sông Nil hoặc bên cạnh những kênh đào từ sông Nil toả ra. Gần sông Nil có vùng Kemet, hoặc là vùng Đất Đen (vì đất ở đây có màu đen sẫm, rất màu mỡ), ở đó nông dân gieo trồng ngũ cốc. Nếu không có vùng đất màu mỡ này thì hẳn sẽ chẳng có nền văn minh nào ở Ai Cập. Từ những thời kỳ xa xưa cho đến tận ngày nay, đối với đa số dân cư Ai Cập, lối sống của họ phụ thuộc vào việc khai thác các tài nguyên nông nghiệp phong phú ở đây. Nước lụt của sông Nil mở đầu một năm làm ăn cho người nông dân Ai Cập, khi mà nước dâng đầy cửa sông Nil Xanh và sông Nil Trắng, hội lưu đúng ở phía bắc thành phố Khactum của Sudan làm cho sông Nil mang phù sa đổ vào Ai Cập. Khi nước sông Nil rút xuống, nông dân Ai Cập làm đất gieo lúa mạch và lúa mì. Kết quả thường là một vụ gặt bội thu vào mùa hè. Việc làm nông nghiệp của người Ai Cập cũng được hỗ trợ bằng nhiều loại nông cụ, họ còn biết đào kênh để dẫn nước vào ruộng. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với người Ai Cập. Số gia súc mà một người Ai Cập cổ đại làm chủ là thước đo quan trọng về mức độ giàu có của người đó. Dù điều kiện tự nhiên hỗ trợ nhiều cho nông nghiệp của người Ai Cập nhưng gặp năm thời tiết khắc nghiệt, mùa màng cũng có khi thất bát, dân chúng có thể bị đói trầm trọng.
Cuộc sống của người Inca cũng dựa vào nông nghiệp và việc sử dụng cẩn trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên thưa thớt. Để đề phòng nạn đói và cung cấp lương thực cho dân số khổng lồ so với điều kiện trên núi cao, gần như toàn bộ các sườn đồi, núi đều được canh tác theo hình bậc thang và được tưới nước bằng kênh đào. Lương thực dư thừa được trữ trong các nhà kho đặc biệt, bảo vệ chống mưa và trong đó có gió thổi tuần hoàn để chống hư thối. Ngô, khoai tây, hạt qinoa (hạt diêm mạch), bí, cà chua, lạc và ớt được trồng trên các cánh đồng bậc thang trên cao. Họ nuôi Ilama (lạc đà không bướu), vịt, alpaca và chuột lang làm gia súc, lấy len lạc đà, lấy thịt ăn và để chở hàng hoá.
Chính nhờ sự linh hoạt mà người Inca và Ai Cập đã thích nghi với những điều kiện sống dù là khắc nghiệt hay thuận lợi. Không chỉ duy trì cuộc sống mà họ còn phát minh ra những công cụ lao động, những kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp… và tất cả đều có thể coi là những giá trị văn hoá vật chất to lớn của hai nền văn minh này.

Xã hội Inca và Ai Cập còn được biết bởi sự quản lý và tổ chức chặt chẽ với những hình thức và biện pháp khác nhau. Ở nhiều mức độ, sự quản lý đó thể hiện được uy quyền của những người thống trị trong xã hội.
Để quản lý cho dễ, người Ai Cập cổ đại chia vương quốc thành nhiều vùng, được gọi là nome. Các nome có thể được bắt đầu từ thời kỳ Tiền triều đại (trước năm 3100 trước Công nguyên), khi đó các vùng được tự trị như tiểu đô thị. Hệ thống cai trị này phổ biến dưới nhiều thời pharaông Ai Cập, vương quốc đã được chia thành 42 nome. Thời kỳ suy yếu, Ai Cập được chia thành 22 nome. Trong mỗi vùng việc cai trị được trao cho một người đứng đầu với đầy đủ quyền lực. Địa vị thủ lĩnh của một vùng được phép truyền từ đời này sang đời khác hoặc do sự bổ nhiệm của pharaông.
Sự cai trị của Ai Cập áp đặt khác nhau về số thuế phải đóng của các cư dân. Người ta chưa xác định được từ khi nào người dân Ai Cập phải đóng thuế bằng các hình thức hoặc là sản phẩm, hoặc là lao động. Vị quan điều hành hệ thống thuế thông qua một bộ của bang, vùng. Các loại thuế phải nộp dựa trên kết quả các ngành nghề thủ công và lợi tức. Các chủ đất phải nộp thuế bằng các sản phẩm thu hoạch trên đất đai của họ. Người dân lao động phải nộp thuế cho mảnh đất mà họ kiếm sống. Mỗi thành viên trong các gia đình buộc phải trả thuế bằng sức lao động ở các công trường bằng số lượng vài tuần trên một năm, ví dụ như đào kênh hay làm việc ở các khu khai khoáng. Tuy nhiên, những người giàu có được phép thuê những người đàn ông nghèo khổ đi đóng thuế lao động cho mình.
Chính quyền của người Inca cũng dựa trên việc sử dụng lao động nặng nhọc của thường dân. Những người đàn ông tráng kiện phải phục vụ trong quân đội Inca hoặc lao động khổ sai trên các công trình công cộng như kênh thuỷ lợi, đường sá và toà nhà công cộng. Để kiểm soát chặt chẽ người dân và công việc họ làm, chính quyền Inca thường xuyên tiến hành điều tra và thống kê dân số. Quipucamayoc là các chứcchuyên chịu trách nhiệm về công việc này. Họ theo dõi chặt chẽ những người có và không có khả năng làm việc. Tuy người Inca không có chữ viết những họ phát minh ra hệ thống ghi chép vô cùng độc đáo đó là quipu, như một loại hồ sơ chứa thông tin về nhiều lĩnh vực. Quipu gồm những đoạn dây nhiều màu, trên đó buộc các nút tuỳ theo từng hệ thống nhất định, tượng trưng cho các số lượng nhất định và bội số của chúng. Mỗi màu mang một ý nghĩa riêng, tuỳ theo loại hồ sơ được giữ. Các màu có thể đại diện cho đất, con người và động vật v.v… Quipu còn được dùng để đánh dấu các sự kiện lịch sử quan trọng.
Trong quản lý chính quyền, người Inca và Ai Cập đều quản thúc chặt chẽ lao động của thường dân, sử dụng họ trong các công việc chung của vương quốc. Khác ở chỗ, người Ai Cập dùng thuế đánh vào lao động và cuộc sống của người dân còn người Inca sử dụng Quipu để giám sát.

3. Trong tôn giáo, tín ngưỡng
Cả người Inca và Ai Cập đều theo tín ngưỡng thờ thần chứ không theo một tôn giáo nào. Họ là những cư dân nông nghiệp nên việc thờ cúng các vị thần núi, thần sông hay các vị thần bầu trời… thể hiện một cách trực tiếp mong muốn của họ cho một cuộc sống sung túc, no đủ, thuận hoà giữa thiên nhiên và con người. Với người Ai Cập, đời sống tôn giáo không chi phối tới họ nhiều như người Inca. Người Ai Cập tôn thờ các vị thần sáng tạo và quan niệm sâu sắc về thế giới bên kia.
Người Ai Cập cổ đại theo tín ngưỡng thờ thần, họ thờ hàng trăm vị thần khác nhau, đôi khi khó nhận ra ai là ai. Nhiều vị thần được tái hiện dưới hình dạng các con vật. Chẳng hạn vị thần Thoth được biểu thì bằng khỉ đầu chó, vị thần trí tuệ ở một ngôi đền nọ nhưng lại là thần Mặt Trăng ở một ngôi đền khác và còn được gọi là Khonsu. Trong 42 vùng ở Ai Cập thì vùng nào cũng có một vị thần riêng, ngoài ra còn có nhiều vị thần khác. Thần Mặt Trời được coi là vị thần có ưu thế nhất trong tôn giáo Ai Cập. Tuy nhiên vị thần này cũng mang nhiều hình dáng khác nhau. Vào lúc rạng sáng thì đó là thần Khepri, một con bọ hung, sau đó thì trở thành Re-Harakhty, một con chim ưng to lớn liệng trên bầu trời. Đây được coi là vị thần chịu trách nhiệm đối với muôn vật và con người, sự màu mỡ của đất đai và cả hành trình của nhà vua đến âm phủ. Thần Mặt Trời được coi là vua của các vị thần và là đấng bảo hộ pharaông khi ngài ra trận.
Theo lý thuyết thì pharaông được coi là vị quản tế cao nhất trong mọi đền thờ của Ai Cập nhưng trên thực tế thì công việc của nhà vua do vị chánh quản tế thực hiện. Ông ta cai quản những tài sản kếch sù trong các khu báu của đền cũng như những vùng đất rộng lớn thuộc điền sản của đền. Chức quản tế này có thể nằm trong gia đình, truyền từ đời này qua đời khác cho đến khi bị pharaông truất quyền của họ bằng cách chỉ định người khác.
Trong đời sống tinh thần của người Ai Cập cũng diễn ra nhiều nghi lễ linh thiêng. Chỉ có một vài vị thầy tế được tuyển chọn mới được tham gia những buổi lễ diễn ra tại điện thờ của đền. Họ vừa đi theo sau vị thầy tế cao cấp, vừa châm đèn đốt hương, vẩy nước thuần khiết từ hồ thiêng trong đền. Vị thầy tế cao cấp tiến gần điện thờ rồi khấn: “Con là một kẻ trong sạch”, rồi ông mở cửa điện thờ để lộ ra bức tượng thần bằng vàng. Tượng này phải được trang điểm trước khi làm lễ dâng thức ăn. Sau khi làm lễ các thầy tế rời khỏi đền thờ mà không để lại dấu tích gì của họ.
Đời sống của người Inca mang nặng bản sắc tôn giáo, cuộc sống hàng ngày của họ bị chi phối bởi sức mạnh siêu nhiên. Người Inca cũng thờ các vị Thần Mặt trời, Thần sấm, Thần trăng, Thần đất và Thần biển. Trong quan niệm, họ vẫn cho rằng các vị thần này là đấng sáng tạo (Viracocha) ra con người, gia súc, đất canh tác… là tất cả những gì tạo nên cuộc sống của họ. Các vị thần cũng thể hiện cho mong muốn về một cuộc sống tốt đẹp của người Inca. Bên cạnh đó, họ còn thờ huaca là những đồ vật, người, hiện tượng tự nhiên hiện hữu quanh con người; thờ conopa, là các tượng thần nhỏ thờ cúng trong gia đình, để đảm bảo sự sung túc cho con người, gia súc và đất trồng.
Lễ hội mùa màng của người Inca cũng được tổ chức rất công phu như Inti Raymi – Lễ hội của Mặt trời, với nhiều vật hiến tế là những gì do người Inca làm ra hoặc gia súc. Mục đích của những nghi lễ này là đảm bảo mùa màng được tươi tốt, sức khoẻ cho con người và sự phồn vinh của đế quốc Inca.

4. Về chữ viết
Điểm khác biệt lớn nhất trong văn hoá của người Inca và Ai Cập chính là chữ viết. Mặc dù hình thành sớm hơn rất nhiều so với văn minh Inca, người Ai Cập đã tạo dựng được hệ thống chữ viết khá phức tạp. Chính vì người Inca không có chữ viết nên họ không thể ghi lại lịch sử của chính dân tộc mình. Những gì tới ngày nay thế giới biết về Inca đều qua ghi chép của người Tây Ban Nha. Vì thế, những điều chúng ta biết về Inca còn quá ít so với những gì diễn ra trong lịch sử cũng họ cũng như những giá trị văn hoá mà họ tạo dựng nên.
Thời Ai Cập cổ đại, chữ tượng hình được sử dụng trong các tượng đài, đền thờ, miếu, lăng mộ của nhà vua và trong mọi giấy tờ tôn giáo. Chữ tượng hình được viết bởi các thầy ký lục, đây là một dạng chữ bằng hình vẽ, rất rắc rối, sử dụng khoảng 700 ký hiệu khác nhau. Phải hết sức cẩn trọng mới làm nổi công việc này và đó cũng là lý do các thầy ký lục giữ được vị trí đặc biệt trong xã hội Ai Cập. Chữ tượng hình có thể viết từ trái sang phải, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Đối với các khế ước buôn bán,thư từ, chuyện kể các thầy ký sử dụng biến thể rút gon của chữ tượng hình và luôn viết từ phải sang trái. Sau này còn một dạng chữ gọi là demotic là văn tự thông tục, được dùng trong các văn bản pháp luật. Đến cuối thời kỳ văn minh Ai Cập, các thầy ký lục còn biết viết chữ Hy Lạp, ngôn ngữ của những vị có chức tước lớn khi đó.
Chữ tượng hình có thể coi là một phát minh lớn của người Ai Cập. Điều đó cũng chứng tỏ họ luôn có ý thức gìn giữ lịch sử và các giá trị văn hoá của mình. Đây cũng là một thành tựu mà không phải dân tộc nào cũng có thể sáng tạo được.

5. Trong y học
Y học cũng là một thành công rất lớn trong đời sống của người Inca và Ai Cập. Y học là điều liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ sức khoẻ của người dân thuộc hai nền văn minh này. Với Ai Cập, ma thuật với y học là sự đan xen trong kỹ thuật chữa bệnh. Y học của người Inca được biết đến ít hơn. Nhưng có một điểm chung là cả người Inca và Ai Cập đều biết sử dụng các loại thực vật xung quanh để chữa bệnh. Giải phẫu ngay từ những thời kỳ này đã được quan tâm.
Các vị thần trong các đền thờ đóng vai trò không lớn trong đời sống của người Ai Cập, bởi vậy nhiều người đã sử dụng ma thuật để giải quyết các vấn đề như những nguy hiểm khi sinh đẻ, tình trạng chết yểu của trẻ con, các dịch sốt,v.v… Người Ai Cập cũng có kỹ năng khá cao về y học. Nay vẫn có những quyển sách của thầy thuốc được viết trên giấy cỏ, trong đó mô tả cách  chữa bệnh và thể hiện sự hiểu biết tỷ mỷ về cơ thể học. Người ta đã viết về tầm quan trọng của tim và cách bắt mạch ở gáy và tay. Đã có những thứ thuốc để chữa các bệnh đau mắt, u nhọt và một số bệnh tật khác. Người Ai Cập tin rằng, nhiều căn bệnh xuất phát từ những sinh vật, tựa như sâu bọ xâm nhập vào cơ thể. Các thầy thuốc và thầy ma thuật cùng làm việc với nhau, họ sử dụng cả thuốc men và phù chú để chữa bệnh khi bị rắn cắn hay bọ cạp đốt. Họ cũng dùng ma thuật để phòng ngừa những tổn thương mà cá sấu và ma quỷ có thể gây ra. Khi chết bùa được mai táng cùng với thi hài vì người ta cho rằng bùa hộ mệnh có thể phóng ngừa điều nguy hại.
Người Inca có nhiều kiến thức trong y học, họ có thể mổ thành công trên đầu. Lá cây coca được dùng để giảm đói và đau, vẫn còn được phổ biến cho tới ngày nay ở vùng núi Andes. Các nghiên cứu mới đây của trường Erasmus Universiteit Rotterdam cho thấy rằng trái với quan niệm phổ biến cho rằng người Inca nghiện coca. Một phương thức trị liệu khác của họ là dùng vỏ cây tiêu Peru đã được nấu còn ấm để đắp lên vết thương.
Như vậy, hai nền văn minh Inca và Ai Cập hình thành trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, thậm chí cách nhau rất xa về thời gian và ở hai khu vực khác nhau. Họ chịu những sự tác động khác nhau của môi trường sống xung quanh. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm khác biệt, giữa họ tồn tại những điểm tương đồng về văn hoá. Điều này được lý giải bởi người Inca và Ai Cập cùng là những cư dân nông nghiệp, vì thế đời sống của họ bị chi phối chủ yếu bởi các hoạt động này. Họ đã sáng tạo nên những giá trị văn hoá vô cùng to lớn với nền văn minh phát triển rực rỡ. Hai nét thành tựu nổi bật của người Ai Cập được cả thế giới biết đến là kim tự tháp và kỹ thuật ướp xác. Kiến trúc xây dựng của người Inca cũng có những điểm tương đồng với kỹ thuật của Ai Cập. Bên cạnh đó, ướp xác cũng nằm trong tín ngưỡng của người Inca.
Các công trình kiến trúc là những di sản lớn nhất mà hai nền văn minh Inca và Ai Cập để lại cho nhân loại. Ngoài ra, kỹ thuật “ướp xác” của họ cũng cho thấy cả đời sống tâm linh vô cùng phong phú, góp phần giúp thế giới khám phá những điều bí ẩn về hai nền văn minh này.
Kim tự tháp là thành tựu vĩ đại còn tồn tại cho tới ngày nay của người Ai Cập. Những điều bí ẩn về kim tự tháp là điều người ta luôn muốn khám phá nhưng đến nay vẫn chưa tìm hết được lời giải đáp. Một câu hỏi luôn được đặt ra là người Ai Cập cổ đã xây nên những tượng đài đồ sộ bằng đá này như thế nào và để làm gì? Thời kỳ gọi là Ai Cập cổ kéo dài 300 năm. Những kim tự tháp ở Giza và tượng Sphinxơ được xây dựng sớm nhất, ở thời kỳ cổ vương quốc (khoảng từ 2613 đến 2160 TCN) gần thành phố Cairo hiện đại. Nhưng ở Ai Cập còn trên 80 kim tự tháp khác và 100 cái nữa ở miền nam Sudan. Các chuyên gia cho rằng mỗi kim tự tháp là một ngôi mộ, các pharaông xây nên để làm nơi an nghỉ cuối cùng cho mình. Từ kim tự tháp (pyramit) có nghĩa là để vị pharaông đã chết trở nên bất tử. Nhưng người ta vẫn chưa hiểu được tại sao người Ai Cập lại chọn hình chóp. Có thể là xuất phát từ các mộ táng thưở xưa hoặc là biểu tượng của những tia nắng mặt trời của cầu thang bước lên thiên đường. Nhiều thế kỷ sau, người Trung Mỹ cũng xây các kim tự tháp, chủ yếu làm các đền thờ. Hàng trăm kim tự tháp này vẫn còn ẩn dấu  trong rừng sâu.
Kim tự tháp Ai Cập được xây nên bởi hàng trăm nghìn viên đá. Đại kim tự tháp được làm từ 2.300.000 khối đá lớn, mỗi khối cân nặng trung bình 2,5 tấn. Các phiến đá lớn nhất lát trên mái Phòng của nhà vua nặng 50 tấn. Công việc khai thác những khối đá này và chuyên chở chúng tới nơi xây dựng Kim tự tháp đã là một điều kỳ diệu. Phần lõi của Kim tự tháp được làm từ đá vôi ở địa phương, loại đá khá mềm. Nhưng loại đá vôi chất lượng cao dùng để ốp bên ngoài được chở đến từ Tura, qua sông Nil. Một số phòng và lối đi bên trong làm bằng đá hoa cương, loại đá cứng hơn lấy từ Aswan, cách 800km từ thượng nguồn. Quanh năm, những toán công nhân xây kim tự tháp làm việc ở công trường khai thác đá, cắt những khối đá thô đưa lên mặt đất. Khi con sông bị ngập nước, tiến tới gần công trường, người ta chất khối đá lên thuyền và chở về nơi xây kim tự tháp. Họ viết tên của mìnKim tự tháp lên đá, vài khối đá trong Kim tự tháp Meidum có khắc các dòng chữ  “Đội Kiên trì”, “Đội Dũng mãnh”, hoặc “Đội thuyền”.
Với người Inca, những công trình kiến trúc còn lại cho tới nay là ở 2 thành phố Machu PicchuCuzco. Machu Picchu được nhà khảo cổ Hiram Bingham phát hiện ra năm 1911. Thành phố này toạ lạc trên triền núi phía đông dãy Andes, ở độ cao 2600m so với mực nước biển, cách Cuzco 50km về phía tây bắc. Có nhiều ý kiến về nguồn gốc và bộ tộc xây dựng nên Machu Picchu, thành phố này đến nay vẫn còn là bí ẩn. Cái tên Machu Picchu được đặt ra trong thời gian gần đây, ám chỉ núi non bảo vệ thành phố này. Machu Picchu  gồm quảng trường thiêng với ba toà nhà tôn giáo là ba đền thờ lớn, ở điểm cao nhất của thành phố có đặt đồng hồ Mặt trời.  Machu Picchu được bao quang bởi một hào sâu, hai thành luỹ cao 5m và dày 1m, xây bằng những khối đá xếp khít nhau mà không dùng vữa. Dù trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, hành phố này tồn tại cùng với thời gian, có giả thuyết đặt ra đây là một nơi linh thiêng của người Inca.
                 Theo sử sách Tây Ban Nha ghi lại, thành phố Cuzco của nguời Inca được thành lập bởi Manco Capac huyền thoại, là trung tâm hành chính, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật của đế chế Inca. Cuzco được mô tả như “thành phố giàu nhất ở Indies, vì nó đầy rẫy châu báu cho sự vĩ đại của các vị thần”, được xây dựng vào thế kỷ 16, bởi 50.000 ngàn lao động khổ sai trong hơn 20 năm. Ở Cuzco. Tại đây có những bức tường thành lớn được xây dựng không cần vữa, bề bặt đá được đẽo gọt, ăn khớp với nhau một cách hoàn hảo. Trung tâm thành phố vây chung quanh huacaypat, từ đấy toả ra bốn con đường hoàng gia; xung quanh quảng trường là các cung điện của vua.
Công trình quan trọng nhất ở CuzcoCoricancha tức đênf thờ mặt trời, bên cạnh là Đền thờ Mặt trăng. Ngày nay một số bức tường ở ngoại ô Cuzco còn được bảo tồn. Nhiều công trình kiến trúc còn tồn tại ở đây là do người Tây Ban Nha xây dựng dựa trên nền của những công trình của người Inca.
Điểm tương đồng trong kỹ thuật xây dựng của người Inca và Ai Cập chính là việc sắp xếp các khối đá chồng khít lên nhau mà không dùng vôi vữa. Hơn thế nữa, những công trình ấy dường như có giá trị trường tồn với thời gian và cũng là điều bí hiểm mà ngày nay chúng ta vẫn chưa khám phá hết được. Có thể nhận thấy rằng các công trình kiến trúc mà người Inca và Ai Cập xây dựng đều mang mục đích tôn giáo hoặc thể hiện cho mong muốn của họ ở kiếp sau cũng như khẳng định địa vị của những thủ lĩnh trong xã hội của họ.
Người Ai Cập cổ đại rất sợ nghĩ tới một ngày nào đó thế giới của họ sẽ không còn tồn tại nữa. Bắt nguồn từ niềm tin vào sức mạnh của ma thuật, họ đã bày đặt ra những nghi thức tang lễ mà theo họ, sẽ đảm bảo cho sự trường tồn của mỗi con người. Điều này liên quan mật thiết với việc bảo quản thi thể của người vừa chết. Những người thợ ướp xác mang người chết tới “Ngôi nhà đẹp”, nơi họ làm việc. Họ dùng một con dao đá chích một lỗ bên trái tử thi rồi moi gan và phổi ra. Chúng được xấy khô rồi cất giữ vào trong những cái bình đặc biệt, gọi là bình chứa nội tạng. Não cũng được lấy ra, nhưng tim thì vẫn để lại vì còn có thể phải đem ra cân sau khi xuống âm phủ. Sau đó, tử thi được phủ một lớp tinh thể natron để chống thối rữa. Ngoài ra còn phải phủ thêm một lớp chất liệu khô như mùn cưa hoặc lá khô. Cuối cùng, dùng những dải băng bằng vải lanh để quấn lại.
Giai đoạn cuối cùng của quá trình ướp xác là đặt thi thể vào quan tài. Với những người giàu có thì quan tài là một cái hòm cầu kỳ gồm nhiều lớp khác nhau được trang trí công phu. Thi thể sẽ được bảo quản tốt và chừng nào người Ai Cập còn  coi trọng thì nó vẫn tồn tại mãi. Họ cho rằng sau khi thể xác của một người chết đi thì vẫn còn một số yếu tố nương tựa vào đó. Yếu tố quan trọng nhất là “Ka” – “linh thể” của con người mà người ta coi như bản sao của thân thể và nó sẽ đưa cái xác trở lại cuộc sống tiếp theo. Một yếu tố linh thiêng khác là “Ba” – “linh hồn” của con người, nó mang hình tượng cái đầu của người quá cố và thân thể của chim ưng. Người Ai Cập cũng tin rằng, cái bóng của con người cũng tồn tại mãi mãi như cái tên của người đó. Quá trình ướp xác là nhằm tạo nên một chủ thể vĩnh hằng từ một cái xác và tạo cho Ka một nơi nương náu ở kiếp sau.
Người Inca luôn tin vào kiếp sau và tôn thờ tổ tiên của mình. Các cơ thể đã chết và các ngôi mộ được coi là các huaca. Linh thiêng nhất trong các huacamallqui. Mallqui là xác ướp của người sáng lập ra một thị tộc. Bằng cách bảo quản các mallqui này, mỗi thị tộc khẳng định đặc điểm của mình, đảm bảo sự hợp nhất nhóm. Những người thống trị khi đã chết được đối xử như khi còn sống. Còn với những người dân thường, nghi lễ được làm đơn giản hơn. Người làm những hầm mộ cho tổ tiên gọi là chullpas. Họ có thể ra vào ngôi mộ này, mang đồ dùng và thức ăn và cầu khấn những người chết đã được ướp xác.
Như vậy, trong quan niệm của người Inca và Ai Cập, người sống cũng như một thực thể còn tồn tại nhưng là ở thế giới bên kia. Họ tin rằng dù khi chết, người ta vẫn có một cuộc sống khác và việc ướp xác thể hiện cho mong muốn về một cuộc sống tốt đẹp ở kiếp sau. Việc ướp xác cũng thể hiện, người Inca và Ai Cập luôn coi trọng người đã khuất, người đó vẫn luôn tồn tại trong trí nhớ của họ và được tôn trọng. Việc mai táng thi thể trong các hầm mộ và những của cải chôn cất theo người chết thể hiện địa vị của người nó khi sống. Có thể nói đời sống tâm linh của người Inca và Ai Cập đóng vai trò rất quan trọng và là một phần trong cuộc sống của họ.        
            Văn minh Inca và Ai Cập là hai nền văn minh phát triển rực rỡ trong lịch sử nhân loại. Dù tồn tại ở những bối cảnh lịch sử và điều kiện tự nhiên khác nhau nhưng văn hoá của họ tồn tại những điểm tương đồng. Những giá trị văn hoá mà họ tạo dựng nên có giá trị bền vững và được cả thế giới công nhận như những cái nôi văn minh của loài người.
Vương quốc của người Inca và Ai Cập được ổn định bằng một hệ thống quản lý chặt chẽ và khả năng sử dụng tài nguyên mang lại nhiều lợi ích. Không những thế, họ biết cách sử dụng những dân tộc bị chinh phục và những người dân của vương quốc mình. Họ là nguồn cung cực lớn về năng lực, kinh nghiệm, công nghệ và sức lao động. Chính những người nông dân, người lính, kiến trúc sư và thợ đẽo đá là những người xây dựng đường sá, đền thờ, kênh đào và ruộng bậc thang làm nên những thành tựu vĩ đại để lại cho đời sau.
Các công trình kiến trúc là biểu trưng của những trung tâm nghi lễ, chính trị của người Inca và Ai Cập. Kim tự tháp Ai Cập và các thành phố của người Inca là sự kết hợp giữa kiến trúc và địa hình xung quanh. Họ đã tạo nên những công trình mà ngày nay con người dày công nghiên cứu cũng chưa khám phá hết kỹ thuậ và họ đã sử dụng để xây dựng nên.
Người Inca và Ai Cập còn chỉ cho thế giới thấy quan niệm sâu sắc về cuộc sống tâm linh với quan niệm, những điều tốt đẹp luôn là khát khao, mơ ước của con người không chỉ khi sống mà cả khi mất đi. Trong xã hội Inca và Ai Cập địa vị của những người thống trị luôn được khẳng định và được nhân dân tôn thờ ngay cả khi họ đã khuất.
Văn minh Inca và Ai Cập tượng trưng cho sức sáng tạo và khả năng của con người có thể cải tạo thiên nhiên và chinh phục những thử thách trong cuộc sống để đạt được những giá trị tốt đẹp.

BA LẦN ĐẠI THẮNG QUÂN MÔNG - NGUYÊN



Vài nét về Đế chế Mông Cổ.
Năm 1206 đại hội quý tộc Khurintai trên bờ sông Ôdôn đã tôn Temujin làm Thành Cát Tư Hãn. quốc gia Mông cổ thống nhất, một nhà nước quân sự tập quyền chuyên chế ra đời. Từ đây, quý tộc phong kiến Mông cổ đã từng bước lôi kéo phần lớn thế giới vào cuộc chiến tranh khủng khiếp. Gươm giáo, máu lửa, tính dã man và đầu óc bành trướng của quý tộc Mông cổ đã tạo nên một đế chế rộng lớn từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa từng có trong lịch sử (tính đến năm 1271, Hốt Tất Liệt diệt được Nam Tống lập nên nhà Nguyên. Năm 1279 toàn bộ Trung Quốc nằm trong tay lãnh chúa Mông Cổ).
1. Kháng chiến chống quân  Mông Cổ xâm lược nước ta lần 1 (1258).
Năm 1251 Mông Ke (Mông Kha) lên ngôi đại hãn, ráo riết chuẩn bị xâm lược Trung Quốc. Năm 1252 Mông Kha sai Khubilai (Hốt Tất Liệt) đánh chiếm Đại Lý (rồi đổi tên là Vân Nam) lấy đó làm bàn đạp mở cuộc tấn công vào Đại Việt.
Ý đồ đánh Đại Việt của Mông Kha như sau: cánh quân của Ủiang Khaidai (Ngột Lương Hợp Thai) thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Đại Việt và từ Đại Việt đánh lên Nam Tống. chiếm được Đại Việt còn có ý nghĩa lớn sau này cho đế quốc Mông Cổ lập bàn đạp cho các cuộc viễn chinh xuống Đông Nam Á, do đó Đại Việt là mục tiêu chiến lược của kế hoạch Mông Kha và đó cũng là sự cố gắng rất lớn của chúng.
Sau khi chiếm được Đại Lý, Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy 4 vạn quân tiến xuống biên giới nước ta, chúng dừng chân và cho sứ giả đưa thư vào Đại Việt đe doạ và dụ hàng. Nhưng cả 3 lần đều thất bại.
Thường xuyên theo dõi tình hình và biết rõ âm mưu xâm lược của quân Mông Cổ, nhà Trần  đã chuẩn bị kháng chiến “10/1257, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho các tướng điều quân thuỷ bộ lên miền biên giới Tây Bắc và ra lệnh cho cả nước khẩn trương chuẩn bị đánh giặc”.
Không thấy sứ giả về, Ngột Lương Hợp Thai quyết định tấn công. Y sai Trếch Trếch Đu (Triệt Triệt Đô) và một tướng khác chia quân làm hai đạo tiến theo tả ngạn và hữu ngạn sông Thao (nhiệm vụ tham dò, dẫn đường), theo sau là hai đạo quân của hai cha con Ngột Lương Hợp Thai.
1/1258, hai đạo quân Mông Cổ đi trước cùng đến hội quân ở Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Sau đó chúng theo đường bộ, hướng về Thăng Long đến Bình Lệ Nguyên – nơi đây Trần Thái Tông đã lập phòng tuyến chặn giặc. Phát hiện quân ta dàn trận bên sông, Auj (con của Ngột Lương Hợp Thai) vội báo cho Ngột Lương Hợp Thai thúc quân tiến xuống. ngày 17/1/1258 chúng đến tới Bình Lệ Nguyên. Trận chiến diễn ra vua Trần trực tiếp chiến đấu. Địa hình) Bình Lệ Nguyên (địa hình bằng phẵng, sở trường cởi ngựa bắn cung khá thuận lợi cho kị binh của Mông Cổ phát huy sở trường của chúng. Trận địa của ta bị lấn dần, quân của vua Trần rút lui an toàn nhờ vào sự giúp sức của quân và dân. Âm mưu cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần hoàn toàn thất bại. Ngột Lương Hợp Thai tức dận đổ lên đầu tướng tiên phong, Trếch Trếch Đu hoảng sợ uống thuốc tử tử.
Cố thủ không được, triều đình quyết định rút lui khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế dã thanh.
Thăng long yên tĩnh trống không. Quân Mông Cổ tiến vào kinh đô vắng lặng, gặp khó khăn về hậu cần, chúng đánh ra vùng xung quanh kinh đô để hòng cướp bóc lương thực. Nhưng ở đây cũng bị nhân dân các hương ấp chống cự quyết liệt tiêu biểu là dân Cổ Sở (Yên sở, Hoài Đức, Hà Tây) đã tự tổ chức lực lượng vũ trang đào hào bao quanh làng, dựng luỹ chiến đấu. Khi giặc đến, kị binh không vượt qua được hào, lại bị cung nỏ bắn ra. lực lượng quân Mông Cổ đã thất bại đầu tiên trước những cuộc chiến đấu từ xóm làng. Chỉ mấy ngày đến Thăng Long quân Mông Cổ hoàn toàn mất hết nhuệ khí chiến đấu : Ngột Lương Hợp Thai và bọn tướng lĩnh đều hốt hoảng cực độ. Nắm vững thời cơ, triều đình nhà Trần quyết định phản công giải phóng Thăng Long nhanh chóng giành thắng lợi. Kinh thành sạch bóng quân thù.
2. Kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta lần hai (1285).
Việc lập An Nam tuyên uý ti và sai 1000 quân hộ tống Trần Di Ái về Đại Việt năm 1282 bị thất bại. Hốt Tất Liệt luôn tìm cách sách nhiễu nhà Trần, gây sự tiến công xâm lựơc. Khi Toa Đô thất bại ở Chiêm Thành và 2 vạn quân Ô Mã Nhi tan tác vì bão biển thì Hốt Tất Liệt càng muốn nhanh chóng đánh chiếm Đại Việt.
Rút kinh nghiệm, lần này Hốt Tất Liệt lại huy động 50 vạn quân. chỉ huy là Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt) và Arickhaya là những viên tướng chủ chốt chinh phục Nam Tống được xếp loại công thần của triều Nguyên.
Để chuẩn bị kháng chiến, nhà Trần mở Hội Nghị Bình Than tập trung các vương hầu võ tướng để bàn kế đánh giặc. vua Trần gọi Nhân hụê vương Trần Khánh Dư (trước đây phạm tội bị cách chức) về hội nghị. Trần Quốc Toản đến hội nghị Bình Than với mong muốn thể hiện ý chí diệt giặc, không được vào hội nghị, uất ức “đã bóp nát quả cam trong tay lúc nào không biết”. Trở về, Quốc Toản huy động hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền, ngày đêm luyện tập quân sự chờ khi diệt giặc lập công. Trên lá cờ của người chi huy trẻ có 6 chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân”.
Sau hội nghị Bình Than, các tướng lĩnh được phân chia đem quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, quan trọng. Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh quân đội cả nước. Trần Quang Khải được cử giữ chức Thượng tướng thái sư.
Trong khi quân dân cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Trần Quốc Tuấn ra Hịch tướng sĩ nêu nghĩa lớn cứu nước, cứu mình. Toàn văn bài hịch là lời kêu gọi thiết tha, tràn đầy tinh thần yêu nước và chí căm thù cướp nước như ngọn lửa bốc cao.
Quân dân cả nước thích vào cánh tay của mình 2 chữ “Sát thát”. 1/1285, thượng hoàng thánh Tông mời các bậc phụ lão có uy tín trong nước về Kinh đô Thăng Long để hỏi kế đánh giặc. trong bữa tiệc ở Điện Diên Hồng, các vị đã đồng thanh hô lớn “Đánh!”. Khắp nơi nhân dân ta thực hiện mệnh lênh của triều đình “ Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh. Nếu không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”.
Giữa năm 1284, Thoát Hoan và Aritckhaya khẩn trương điều quân vào Đại Việt. Bọn Mông – Nguyên muốn diệt Đại Việt bằng 3 gọng kìm đánh vào biên giới phía bắc và phía nam.
Ngày 2/2/1258, quân giặc chia làm 6 mũi đánh vào Nội Bàng (Bắc Giang). Trần Quốc Tuấn chỉ huy đại quân đánh chặn giặc. Trước thế mạnh của giăc, quân ta bị tổn thất, Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về Vạn Kiếp. Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã ra gặp Trần Quốc Tuấn và vờ hỏi Thống soái “thế giặc như thế, ta phải hàng thôi”. Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng”. tại Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn tập trung binh lực lớn đến 20 vạn.
11/2/1285, địch tấn công phòng tuyến Bình Than, quân ta chống trả quyết liệt, vua Trần dẫn quân về tăng viện cho Trần Quốc Tuấn. Quân ta rút khỏi Vạn Kiếp. Vua trần và Trần Quốc Tuấn về Thăng Long.
Trước sức mạnh của giặc Trần Nhật Duật (đóng quân tại Thu Vật (Yên Bái) rút quân về Bạch Hạc sau đó kéo về hạ lưu sông Hồng.
Thượng hoàng Thái Tông và vua Nhân Tông về Thiên Trường (Nam Định). Thoát Hoan vừa chiếm được Thăng Long vội vàng đuổi quân theo.
Trần Quốc Tuấn thấy cần tăng cường cho mặt trận phía nam, chặn đường tiến của Toa Đô. Trần Nhật Duật chịu trách nhiệm giữ trấn Nghệ An, Trần Kiện vào Thanh Hoá, Trần Quang Khải tăng cường cho Nghệ An.
Thoát Hoan cố gắng kiểm soát vùng chiếm đóng, bố trí quân sĩ dựng đồn ở nhiều nơi, nhưng phân tán.
Ở biên giới phía bắc, Nguyễn Thế Lộc còn giữ được Thất nguyên (Lạng sơn).
Nắm vững tình hình địch, Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem quân ngược sông Thái Bình đánh chiếm lại Vạn Kiếp không mấy khó khăn. Thoát Hoan bị cô lập.
Ở phía nam, Thanh - Nghệ tĩnh quân ta gặp nhiều khó khăn, Lê Trắc đầu hàng và dẫn đường cho giặc đánh quân ta.
13/3, Trần Kiện lại dẫn đường cho giặc tấn công quân Trần Quang Khải, cuộc chiến ác liệt, thế trận lại thuộc về địch, Quang Khải cho rút quân.
giữa tháng 3/1285, cuộc chiến vẫn diễn ra gay go phức tạp. quân Trần về Thăng Long, Thoát Hoan lại thúc quân xuống Thiên Trường. Lúc ấy, Toa Đô kéo quân từ Thanh Hoá ra Trường Yên (Ninh Bình), Y sai các tướng ra Thiên Trường báo cho Thoát Hoàn về nguy cơ của mình (mệt mỏi, đói ăn, bệnh tật…). Quân của Thoát Hoan cũng rơi vào tình thế đó, nên ra lệnh cho Toa Đô đóng quân và tự kiếm ăn.
5/1258, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật cùng nhiều tướng sĩ khác đem quân ra bắc. Chiến lược phản công bắt đầu.
Mục tiêu trước mắt của ta là đánh tan quân giặc ở Khoái Châu (Hưng Yên) để chia cắt quân Thoát Hoan và Toa Đô, đẩy quân Thoát Hoan vào thế cô lập bị động. vua Trần cho rằng “quân giặc đi xa nhiều năm, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất phải mọi. Lấy nhàn chống mệt, trước hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt đánh thắng được”.
Cuối tháng 5, quân Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật (có cả binh sĩ nhà Tống do Nhật Duật thu nhận họ) nhanh chóng tiêu diệt địch ở Tây Kết và Hàm tử.
Tiếp đó, Trần Quang Khải và các tướng khác đánh vào Chương Dương nhanh chóng thắng lợi. Tàn quân địch rút về Thăng Long.
Quân ta bao vây Thăng Long, địch ra sức cố thủ.
Trước tình cảnh hiểm nghèo chúng liều chết phá vây vượt sông Hồng chạy sang Gia Lâm. Kinh thành được hoàn toàn khôi phục.
Sức tàn, thế yếu, Thoát Hoan rút quân theo hướng Vạn Kiếp. Trần Quốc Tuấn đánh chặn, quân Thoát Hoan phải chạy sang phía sông Như Nguyệt lại gặp quân Trần Quốc Toản đánh tổn thất nặng nề. Thoát Hoan chạy sang Vạn Kiếp lại bị sa vào bẫy phục kích của Trần Quốc Tuấn. Hoảng sợ Thoát Hoan mở đưòng máu chạy về biên giới Lạng Sơn lại bị  quân của quốc công tiết chế đánh chặn ở cửa ải, Thoát Hoan hoảng sợ chui vào ống đồng cho quân lính khiêng chạy
Các trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp đã tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nước ta.
3. Kháng chiến lần ba chống quân Mông - Nguyên (1288).
Hai lần xâm lược, hai lần thất bại thảm hại, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt mất mặt, tức tối muốn tổ chức ngay cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba hòng trả thù, đồng thời để gấp rút đánh thông con đường bành trướng xuống Đông Nan Á. Hốt Tất Liệt bãi bỏ kế hoạch đánh Nhật Bản để tập trung lực lượng cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần này.
Toàn bộ quân viễn chinh lần này do Thoát Hoan chỉ huy gồm 30 vạn quân cả bộ binh lẫn thuỷ binh, mang theo lương thực đầy đủ (rút kinh nghiêm do bị quân ta dung kế "Vườn không nhà trống", lần này chúng đem theo rất nhiều lương thực và vì thế mà chúng phải tốn rất nhiều công sức để vạn chuyển một khối lượng lương thực khổng lồ này). Chúng tiến vào nước ta chia thành 3 đạo:
- Đạo quân thứ nhất do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào.
- Đạo quân thứ hai do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân Nam theo sông Hồng tiến xuống.
- Đạo quân thuỷ do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy với hơn 600 chiến thuyền từ Quảng Đông vào vịnh Hạ Long theo sông Bạch Đằng, tiến thẳng vào để hội quân với đạo quân bộ ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương).
Ngoài ra, có một đoàn thuyền vận tải do Trương Văn Hổ cầm đầu chở 70 vạn thạch lương theo sau.
Khác với lần trước, lần này chúng chú ý đến thuỷ binh.
Trần Quốc Tuấn lại được cử làm tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang. Ông đề ra kế hoạch: lúc đầu thế giặc mạnh, quân ta rút về vùng ven biển để bảo toàn lực lượng. Nhân dân trên đường tiến quân của địch và trong vùng chiếm đóng có nhiệm vụ cất giấu lương thực, kiên quyết triệt nguồn lương thực của địch, đồng thời cùng với dân binh đẩy mạnh hoạt động đánh địch làm tiêu hao sinh lực của chúng, ăn không ngon, ngủ không yên, đẩy chúng vào thế bị động.
Được tin giặc sắp tràn vào biên giới, vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn “Giặc tới, liệu tình hình thế nào?”, Trần Quốc Tuấn trả lời “Năm nay đánh giặc nhàn”.
Lần này, Trần Quốc Tuấn chú trọng đến chiến trường biển đông bắc - đường tiến quân lương của địch. Trần Khánh Dư chịu trách nhiệm về biên thuỳ ven biển và Trần Toàn có nhiệm vụ ngăn chặn thuỷ quân giặc.
Trận Ngọc Sơn, do tương quan lực lượng của Ô Mã Nhi mạnh hơn nên Trần Toàn có nhiệm vụ tiêu diệt đội thuyền đi sau của chúng đã thu được thắng lợi. Nhưng vì lực lượng giặc mạnh nên chúng vẫn vượt qua vùng biển Hạ Long và An Bang (Quảng Ninh) và gặp quân của Trần Khánh Dư, trận chiến xảy ra ác liệt. Quân của Trần Khánh Dư không sao cản được đạo quân của giặc, chúng ngược sông Bạch Đằng kéo vào Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan.
Trận Vân Đồn - Cửa Lục, dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân ta tiêu diệt sạch đoàn thuyền lương của địch đi phía sau. Tạo điều kiện cho quân dân ta nhanh chóng chuyển lên chiến lược phản công.
Ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan cố xây dựng thành căn cứ quân sự. Y để lại một số quân ở đây, còn lại tiếp tục tiến về Thăng Long. Quân dân ta tạm thời rút khỏi Kinh thành.
Hạu cần bao giờ cũng là một vấn đề then chốt của bất cứ một quân đội nào. Quân Nguyên trông chờ vào thuyền lương của Trần Văn Hổ, giờ này mấy chục vạn quân Nguyên ở Thăng Long lâm vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng. Thoát Hoan sai quân đi tìm đoàn thuyền lương nhưng đều bị ta đánh bại. Sau khi biết được tin báo thuyền lương nằm trong tay ta, Thoát Hoan hoang mang lo sợ. Đầu tháng 3, Thoát Hoan buộc phải quyết định bỏ Thăng Long về Vạn Kiếp tổ chức phòng thủ, sau đó quyết định chia đạo quân làm hai theo đường thuỷ bộ rút về nước.
Biết trước ý đồ và đường hành quân của địch, Trần Quốc Tuấn chuẩn bị một cuộc phản công chu đáo. Sông Bạch Đằng được chọn làm điểm quyết chiến tiêu diệt đạo quân Ô Mã Nhi. Để bảo đảm cho thế trận bao vây địch thật hoàn hảo, ngoài việc dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm yếu và lợi dụng Gềnh Cốc như một chướng ngại tự nhiên, Trần Quốc Tuấn còn xây dựng ở các cửa sông những trận địa cọc vững vàng, quy mô lớn chỉ trong vòng không quá 20 ngày. Đây là một trong những công tác quan trọng trong việc chuẩn bị chiến trường, thể hiện rõ tư tưởng chủ động tích cực tiêu diệt địch của quân dân thời Trần.
Nhờ sự chu bị chu đáo, quân dân ta lần lượt đánh bại quân giặc trên đường rút lui trận quyết chiến đúng như dự định xảy ra trên sông Bạch Đằng. Sau chiến thắng Bạch Đằng, ngày 18 tháng 4, hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đem bọn tù binh Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ và các tên thiên hộ, vạn hộ về phủ Long Hưng (Thái Bình) làm lễ mừng thắng trận trước lăng mộ vua Thái Tông. Trần Nhân Tông đọc :
“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Giang sơn mãi mãi vững âu vàng”.